Đọc thử “Bên này địa đàng”

SCOTT FITZGERALD

Bên này địa đàng

Sơn Lam dịch

QUYỂN I

KẺ ÍCH KỶ LÃNG MẠN

CHƯƠNG 1

AMORY, CON TRAI CỦA BEATRICE

AMORY BLAINE thừa hưởng mọi đức tính từ mẹ, ngoại trừ một số điểm lạc lõng khó diễn tả khiến cậu trở nên đáng giá. Cha cậu, một người không có tài ăn nói và không giỏi giang, thích đọc Byron và có thói quen mơ màng nghĩ đến cuốn Bách khoa Toàn thư Anh quốc, đã trở nên giàu có ở tuổi ba mươi sau cái chết của hai người anh, những chuyên gia môi giới thành đạt ở Chicago, và trong cơn hưng phấn đầu tiên của cảm xúc, nghĩ rằng thế giới này là của mình, ông đã đến Bar Harbor rồi gặp Beatrice O’Hare. Kết quả là, Stephen Blaine đã trao lại cho hậu thế chiều cao một mét tám mươi và khuynh hướng hay dao động trước những thời khắc quan trọng, hai đặc tính này đã xuất hiện ở cậu con trai Amory. Suốt nhiều năm, ông đã lảng vảng phía sau cuộc sống gia đình, làm một người thiếu quyết đoán với khuôn mặt bị che quá nửa bởi mái tóc bóng mượt vô hồn, không ngừng bận bịu “chăm sóc” cho bà vợ, không ngừng bị quấy rầy bởi ý nghĩ rằng ông không hiểu và không thể hiểu bà.

Nhưng Beatrice Blaine! Đó mới là một phụ nữ đáng để bàn tới! Những tấm hình đầu tiên của bà được chụp tại trang viên ở Lake Geneva, Wisconsin của cha bà, hay tại Trường dòng Thánh Tâm ở Rome – một môi trường học tập xa hoa mà vào thời của bà chỉ dành cho những cô con gái của những người vô cùng giàu có – chúng cho thấy sự thanh tao tinh tế trong đường nét, nghệ thuật hoàn hảo và sự bình dị trong trang phục của bà. Bà đã nhận được sự giáo dưỡng phi thường – tuổi trẻ của bà đã trôi qua trong ánh hào quang của thời kỳ Phục Hưng, bà rành rọt những câu chuyện phiếm mới mẻ nhất về các gia tộc La Mã cổ xưa; bà được biết đến như cô gái Mỹ sang trọng và giàu có trong mắt Hồng y Vitori và Nữ hoàng Margherita cùng những người nổi danh kín tiếng mà người ta phải có chút văn hóa mới được nghe tên. Ở Anh, bà đã học được rằng hãy uống whiskey và soda thay vì rượu vang, và học được cách xã giao khéo léo sau một mùa đông sống ở Vienna. Nhìn chung, Beatrice O’Hara đã hấp thu sự giáo dưỡng không ai có thể nhận được nữa; một kiểu giáo dục được đo lường bằng những việc và những người mà ta khinh miệt nhưng mê mẩn; một nền văn hóa đa dạng ở tất cả những loại hình nghệ thuật và những truyền thống, nhưng đã cạn kiệt mọi ý tưởng, trong những ngày cuối cùng ấy khi người thợ làm vườn kỳ tài cắt trụi những đóa hồng kém sắc để tạo nên một nụ hồng hoàn hảo.

Vào những khoảnh khắc kém quan trọng hơn của cuộc sống, bà đã về Mỹ, gặp Stephen Blaine rồi cưới ông – chủ yếu vì bà cảm thấy có chút mệt mỏi, chút buồn bã. Đứa con duy nhất của bà đã được hình thành sau thai kỳ khó nhọc và ra đời vào một ngày mùa xuân của năm chín mươi sáu.

Khi Amory lên năm, cậu đã trở thành một người bạn tâm giao thú vị của bà. Cậu là một đứa bé tóc nâu, với cặp mắt to tròn xinh xắn, có trí tưởng tượng phong phú, và sở thích dành cho những bộ trang phục quý phái. Từ khoảng thời gian bốn đến mười tuổi, cậu đã đi vòng quanh đất nước cùng mẹ trên chiếc xe riêng của bố, từ Coronado, nơi mẹ cậu đã buồn chán đến mức bà bị suy nhược thần kinh giữa một khách sạn lớn, đến Mexico City, nơi bà bị lao phổi nhẹ. Những biến cố này đã khiến bà cảm thấy hài lòng, và về sau đã sử dụng nó như một câu chuyện mua vui cho mọi người – nhất là khi đã uống vài ly rượu.

Nên trong lúc những thằng nhóc nhà giàu khác đang cãi lại các cô bảo mẫu trên bờ biển Newport, hoặc bị tét đít, bị ép học, đang được đọc cho nghe từ những cuốn sách như Dám và Làm, hay Nhóc Frank ở hạ lưu sông Mississippi, thì Amory đang sai khiến những nhân viên hành lý ngoan ngoãn tại Waldorf, vượt qua mối ác cảm tự nhiên về nhạc thính phòng và nhạc giao hưởng, tiếp thu sự giáo dục chuyên sâu từ mẹ.

“Amory.”

“Vâng, Beatrice.” (Một cách kỳ khôi để gọi mẹ; bà đã khuyến khích cậu làm vậy).

“Con yêu, đừng vội nghĩ đến việc ra khỏi giường. Mẹ luôn cho rằng việc dậy sớm khi còn nhỏ sẽ khiến người ta trở nên bồn chồn. Clothilde sẽ mang bữa sáng lên cho con.”

“Được thôi.”

“Hôm nay mẹ cảm thấy già lắm, Amory ạ”, bà thở dài, mặt đầy cảm xúc, giọng ý nhị đầy tinh tế, đôi bàn tay uyển chuyển như tay của Bernhardt. “Tinh thần mẹ rối bời lắm… vô cùng rối bời. Ngay ngày mai chúng ta phải rời khỏi cái nơi đáng sợ này và đi tìm ánh nắng.”

Cặp mắt sắc sảo màu xanh lục của Amory nhìn mẹ qua làn tóc rối. Dù ở độ tuổi này cậu cũng không hề có nhận định ảo tưởng nào về mẹ.

“Amory.”

“Ồ, vâng.”

“Mẹ muốn con ngâm mình trong bồn nước nóng, nóng hết mức mà con có thể chịu đựng, và cứ thư giãn đi. Con có thể đọc sách trong bồn nếu muốn.”

Bà đã nhồi nhét cho cậu một số phần của Fêtes Galantes trước khi cậu mười tuổi; ở tuổi mười một, cậu có thể nói liến thoắng, có phần gợi tưởng về Brahms, Mozart và Beethoven. Một buổi chiều nọ, khi bị bỏ lại một mình tại khách sạn ở Hot Springs, cậu đã nếm thử rượu mùi hương mơ của mẹ, và trong lúc hương vị khiến cậu cảm thấy khoan khoái, cậu đã ngà ngà say. Nó vui được một lúc, nhưng trong cơn phấn khích, cậu đã thử một điếu thuốc, và đã phủ phục trước phản ứng thô tục, tầm thường. Dù sự cố này khiến Beatrice kinh hoàng, nó cũng ngầm khiến bà cảm thấy thích thú và đã trở thành một phần của thứ mà thế hệ sau gọi là “những câu chuyện làm quà” của bà.

“Đứa con trai này của tôi”, cậu đã nghe bà kể trong căn phòng đầy những người phụ nữ đang bàng hoàng thán phục, vào một ngày nọ, “thạo đời và duyên dáng lắm – nhưng rất mỏng manh – tất cả chúng ta đều mỏng manh; ở đây này, các bà biết đấy.” Bàn tay của bà mạnh bạo khoát trên bộ ngực căng tròn; rồi giọng nói của bà chùng xuống thành một tiếng thì thầm, bà kể cho họ nghe về sự cố rượu mùi hương mơ. Họ thốt lên đầy vẻ khoái trá, vì bà đã tỏ ra là một người mua vui đầy quả cảm, nhưng đêm đó, nhiều chiếc tủ trang trí đã được khóa lại để phòng ngừa sự táy máy của Bobby hay Barbara bé nhỏ…

Những chuyến hành hương gia đình này hầu như bất biến; với hai cô hầu, chiếc xe riêng, hoặc ông Blaine mỗi khi ông rảnh, và rất thường còn có cả một vị bác sỹ riêng. Khi Amory bị ho dữ dội, bốn bác sỹ chuyên khoa đã trợn mắt nhìn nhau, khom người quanh chiếc giường của cậu; khi cậu bị sốt tinh hồng nhiệt, một phái đoàn mười bốn người, gồm các bác sỹ và y tá, đã túc trực chăm sóc cho cậu. Nhưng, gia đình là trên hết, nên cậu đã luôn được chữa cho qua cơn bạo bệnh.

Nhà Blaine không sống cố định ở bất kỳ thành phố nào. Họ là nhà Blaine đến từ Lake Geneva; họ có đủ họ hàng để thay thế cho những người bạn, và có địa vị đáng để ngưỡng mộ từ Pasadena đến Cape Cod. Nhưng Beatrice ngày càng chỉ thích những người quen mới, vì có một số giai thoại nhất định, như lịch sử về thể chất của bà và rất nhiều lần hết bệnh lại khỏi, hồi ức của bà về những năm tháng sống ở xứ người, bà cần được nhắc đến chúng thường xuyên. Cũng như những giấc mơ Freud, chúng phải bị ném bỏ, bằng không chúng  sẽ tràn về và vây hãm tâm trí của bà. Nhưng Beatrice có ác cảm với phụ nữ Hoa Kỳ, đặc biệt là dân số trôi nổi của người phương Tây cũ. “Họ có phương ngữ, con yêu ạ”, bà nói với Amory, “không phải phương ngữ miền Nam hay Boston, chẳng phải phương ngữ gắn với bất kỳ vùng miền nào, chỉ là phương ngữ thôi” – bà trở nên mơ màng. “Họ nói lơ lớ những phương ngữ cũ kỹ đã bị lũ bướm gặm nhấm của London, thứ phương ngữ từng chịu cảnh cam go và phải được một ai đó đem ra sử dụng. Họ nói như một viên quản gia người Anh sẽ nói sau vài năm làm việc cho nhà hát opera Chicago.” Bà bắt đầu nói không mạch lạc – “có lẽ… trong cuộc đời của mọi người phụ nữ phương Tây, có những lúc… bà ta cảm thấy chồng mình đã đủ giàu để bà ta có… phương ngữ… họ tìm cách để gây ấn tượng với mẹ, con yêu ạ…”

Mặc dù bà nghĩ cơ thể của mình cực kỳ suy nhược, bà cho rằng tâm hồn của bà cũng suy nhược chẳng kém, và vì thế nó rất quan trọng trong cuộc sống của bà. Bà đã từng theo đạo Công giáo, nhưng rồi nhận ra các vị linh mục sẽ chú tâm đến bà nhiều hơn khi bà đang đánh mất hoặc đang lấy lại niềm tin ở Mẹ Giáo hội, bởi vậy bà đã duy trì thái độ dao động đầy mê hoặc đó. Bà thường phê phán tính tư bản của các giáo sĩ Công giáo Hoa Kỳ, và khá chắc chắn rằng nếu vẫn còn sống dưới bóng của các nhà thờ lục địa thì linh hồn của bà vẫn sẽ là một ngọn lửa mong manh trên tế đài vĩ đại ở Rome. Nhưng các linh mục vẫn là đối tượng mà bà ưa thích, chỉ sau các bác sỹ.

“Ôi, Giám mục Wiston”, bà dõng dạc tuyên bố, “tôi không muốn nói về bản thân đâu. Tôi có thể hình dung ra biết bao người phụ nữ bấn loạn đã chạy đến cửa tìm ngài, van xin ngài hãy rủ lòng từ bi” – nhưng sau khi vị giáo sĩ ngắt lời thì lại nói – “nhưng lòng tôi rối bời, lạ lẫm lắm.”

Bà chỉ thổ lộ chuyện tình cảm lứa đôi với các giám mục hoặc cao hơn. Hồi mới về nước, có một chàng trai trẻ ngoại giáo như Swinburne ở Asheville, người có những nụ hôn cháy bỏng và những cuộc trò chuyện không đa sầu đa cảm khiến bà si mê – họ đã thảo luận về những lợi thế và những bất lợi của mối tình ấy trong sự lãng mạn không hề sến súa. Cuối cùng bà đã chọn một người môn đăng hộ đối để kết hôn, và chàng trai ngoại giáo đến từ Asheville ấy đã trải qua một cơn khủng hoảng tâm linh, đã gia nhập Giáo hội Công giáo, và đã trở thành Đức ông Darcy.

“Quả vậy, bà Blaine ạ, ông ấy vẫn là một người đáng mến – là cánh tay phải của Hồng y.”

“Tôi biết một ngày nào đó Amory sẽ đến gặp ông ấy”, vị phu nhân xinh đẹp thở sâu, “và Đức ông Darcy sẽ hiểu nó như ông ấy đã hiểu tôi.”

Amory đã bước sang tuổi mười ba, khá cao và mảnh khảnh, quấn quít bên bà mẹ người Celt của mình hơn bao giờ hết. Đôi khi cậu được gia sư đến dạy – với mục đích để cậu “bắt kịp”, ở mỗi nơi lại “tiếp tục những gì đang học dở dang”, nhưng vì không có vị gia sư nào tìm được chỗ dở dang của cậu, nên sự học của cậu vẫn cực kỳ tiến triển. Nếu tiếp tục thêm vài năm, thứ mà lối sống này mang lại cho cậu sẽ là những rắc rối. Tuy nhiên, khi đã ra khơi bờ biển nước Ý được bốn giờ, cùng Beatrice, thì ruột thừa của cậu bị vỡ, có lẽ vì đã nằm trên giường mà ăn quá nhiều bữa, và sau hàng loạt những cuộc điện đàm đến châu Âu cùng nước Mỹ, trước sự bàng hoàng của hành khách, con tàu bự chảng đã chậm rãi quay đầu và trở lại New York để trả Amory xuống cảng. Nếu đó không phải là vấn đề sống chết, bạn sẽ phải thừa nhận rằng nó là một cảnh tượng huy hoàng.

Sau ca mổ, Beatrice đã bị suy nhược thần kinh, giống những cơn cuồng sảng rượu cấp đến đáng ngờ, và Amory bị bỏ lại ở Minneapolis, để sống hai năm cùng cô chú. Ở đó, lần đầu tiên bầu không khí tầm thường, thô tục của văn minh phương Tây đã túm lấy cậu – có thể nói, khi cậu chỉ mặc độc một chiếc quần lót.

NỤ HÔN DÀNH CHO AMORY

 Cậu cong môi trong lúc đọc.

“Tớ sẽ tổ chức một bữa tiệc cưỡi xe trượt tuyết”, bức thư viết, “vào thứ Năm, ngày mười bảy tháng Mười hai, lúc năm giờ chiều,

và tớ sẽ rất mừng nếu cậu tới dự.

Kính thư,

Xin vui lòng hồi đáp.                                           Myra St. Claire.”

 

Cậu đã đến Minneapolis được hai tháng, và khó khăn lớn nhất của cậu là che đậy không để cho “những đứa con trai khác ở trường” biết cậu cảm thấy mình ưu việt hơn chúng đến mức nào, nhưng sự quả quyết đó không ngừng thay đổi. Cậu đã khoe mẽ trong giờ tiếng Pháp (cậu đang theo học lớp tiếng Pháp nâng cao) trước sự bối rối khôn cùng của thầy Reardon, người có lối phát âm khiến Amory khinh thường, và trước sự thích thú của cả lớp. Thầy Reardon, người từng sống ở Paris vài tuần tận mười năm trước, đã trả đũa bằng những động từ, bất kể khi nào cậu mở sách. Nhưng một lần khác, khi Amory khoe mẽ trong giờ lịch sử, nó đã mang đến kết cục khá thảm khốc, vì những thằng nhóc chỉ mới bằng tuổi cậu, và chúng đã ré lên những lời ám chỉ với nhau suốt cả tuần sau đó:

“Ôi… mày bít hông, tao tin rằng, cuộc cách mạng Mỹ phần lứn là chuyện của giai cứp trung liu1”, hoặc

“Washington có xuất thân từ dòng dõi danh giá… chà, khá danh giá… tao tin vậy đó.”

Amory đã khéo léo tìm cách khôi phục lại bản thân bằng việc cố tình phạm phải những sai lầm ngớ ngẩn. Hai năm trước, cậu đã bắt đầu học về lịch sử Hoa Kỳ mà, dù chỉ kéo dài đến các cuộc chiến tranh thuộc địa, đã được mẹ cậu quả quyết rằng cực kỳ mê hoặc.

Bất lợi lớn nhất của cậu nằm ở các môn thể thao, nhưng ngay khi cậu nhận ra nó là tiêu chuẩn đánh giá quyền lực và mức độ nổi tiếng ở trường, cậu đã nỗ lực không ngừng để trở nên xuất chúng ở các môn thể thao mùa đông, và với hai mắt cá mỏi nhừ đau nhức, bất chấp những nỗ lực của cậu, Amory đã quả cảm trượt khắp sân băng Lorelie cứ mỗi buổi chiều, tự hỏi khi nào thì mình có thể cầm gậy khúc côn cầu mà không để nó vướng vào giày trượt một cách khó hiểu.

Thư mời dự bữa tiệc cưỡi xe trượt tuyết của cô Myra St. Claire đã nằm trong túi áo choàng của cậu suốt buổi sáng, nơi nó ấp ủ một mối tình mãnh liệt với miếng kẹo lạc bụi bặm. Đến buổi chiều, cậu lôi nó ra ngoài ánh sáng trong tiếng thở dài, và sau một hồi cân nhắc, cùng một bản nháp viết đằng sau cuốn Tiếng Latin năm Nhất của Collar và Daniel, cậu đã soạn câu trả lời rằng:

Gửi cô St. Claire kính mến:

Quả thực rất vui mừng khi nhận được thư mời vô cùng duyên dáng của cô cho buổi tối ngày thứ Năm tuần tới. Tôi rất hân hạnh và sẵn lòng được diện kiến vào buổi tối ngày thứ Năm tuần tới ấy.

Kính thư,

Amory Blaine

 

Bởi vậy, vào tối thứ Năm, cậu trầm ngâm bước dọc những vỉa hè trơn trượt đã được cào tuyết, và đứng trước nhà Myra, lúc năm giờ rưỡi, sự chậm trễ mà Amory biết mẹ cậu sẽ ưa chuộng. Cậu đứng đợi nơi ngưỡng cửa với cặp mắt nhắm hờ bình thản, và lên kế hoạch cho sự xuất hiện của mình một cách thật chuẩn xác. Cậu sẽ bước qua sàn, không quá vội vã, đến gặp bà St. Claire, và nói bằng giọng được điều tiết hợp lý rằng: “Thưa bà St. Claire kính mến, tôi rất lấy làm tiếc khi đến muộn, nhưng cô hầu của tôi” – cậu ngập ngừng và nhận ra mình đang trích lời người khác – “nhưng chú tôi và tôi đã phải hầu chuyện một người… Vâng, tôi đã gặp cô con gái đáng yêu của bà ở trường múa.”

Rồi cậu sẽ bắt tay, khẽ cúi đầu kiểu cách nửa ngoại lai, với tất cả những cô gái nhỏ nhắn đoan trang, và sẽ gật đầu với những thằng nhóc đang bất động đứng quanh, cứng đờ túm tụm thành những nhóm ngượng ngùng để tìm sự bảo vệ chung. Viên quản gia (một trong ba vị ở Minneapolis) mở toang cánh cửa. Amory bước vào và tự cởi mũ cùng áo choàng. Cậu hơi ngạc nhiên khi không nghe thấy tiếng chuyện trò chói tai vang lên từ căn phòng bên cạnh, nên cậu nhận định rằng nó hẳn phải là một bữa tiệc khá trang trọng. Cậu tán thành điều đó – như cậu tán thành viên quản gia.

“Cô Myra”, cậu nói.

Trước sự ngạc nhiên của cậu, viên quản gia cười nham nhở. “Ồ, phải”, ông ta tuyên bố, “cô ấy đang ở đây.” Ông ta không nhận thấy rằng việc không thể nói giọng cockney đã làm hỏng vị thế của ông ta1. Amory lạnh lùng nhìn ông ta. “Nhưng”, viên quản gia nói tiếp, lớn tiếng một cách không cần thiết, “cô ấy là người duy nhất đây. Những người khác đã đi rồi.”

Amory thở gấp trong cơn kinh hãi bất chợt. “Gì cơ?”

“Cô ấy đã đợi Amory Blaine. Đó là cậu, phải không? Mẹ cô ấy đã nói nếu cậu xuất hiện lúc năm giờ rưỡi, hai người phải dùng xe Packard2 để đuổi theo họ.”

Nỗi kinh hãi của Amory càng rõ hơn khi Myra xuất hiện, trùm áo choàng kín mít, mặt phụng phịu, giọng khó lắm mới có thể tỏ ra vui vẻ.

“Chào, Amory.”

“Chào, Myra.” Cậu miêu tả tình trạng của mình. “Chà… sao thì, cậu cũng đã tới.”

“Chà… để tớ kể cậu nghe. Tớ đoán rằng cậu đã không được nghe nói đến vụ tai nạn xe hơi”, cậu giãi bày.

Myra trợn trừng mắt. “Ai bị tai nạn cơ?”

“Chà”, cậu nói tiếp trong tuyệt vọng, “cô, chú và tớ.” “Có ai bị chết không?”

Amory ngập ngừng rồi gật đầu. “Chú cậu sao?” – Myra hoảng hốt.

“Ồ, không, chỉ là con ngựa thôi… một con ngựa xám.” Đến đây thì viên quản gia người Scotland cười khẩy.

Amory rất sẵn lòng tra tấn ông ta mà không hề ái ngại. “Chúng ta đi thôi”, Myra lạnh lùng nói. “Cậu biết đấy,

Amory, nhà tớ đã thuê năm cỗ xe trượt tuyết và tất cả mọi người đều đã đến, nên họ không thể đợi…”

“Chà, tớ đâu thể làm gì khác, phải không nào?”

“Nên mẹ đã bảo tớ hãy đợi đến năm giờ rưỡi. Chúng ta sẽ đuổi theo những cỗ xe trượt tuyết trước khi họ đến Câu lạc bộ Minnehaha, Amory ạ.”

Vẻ đĩnh đạc đã nát vụn của Amory rớt xuống. Cậu hình dung đoàn người đang vui vẻ lướt qua những con phố đầy tuyết, sự hiện diện của chiếc limousine, cảnh xuất hiện đầy kinh hoàng của cậu và Myra trước ba mươi cặp mắt đầy trách móc, lời xin lỗi của cậu – lần này sẽ là một lời xin lỗi thực sự. Cậu thở dài thành tiếng.

“Sao?” Myra hỏi.

“Không có gì. Tớ chỉ ngáp thôi mà. Có thực chúng ta sẽ bắt kịp họ trước khi họ đến đó chứ?” Cậu đang bám vào hy vọng mong manh rằng họ sẽ có thể lẻn vào Câu lạc bộ Minnehaha và gặp mọi người ở đó, được tìm thấy tại nơi ẩn dật nhàn nhã trước đống lửa và lấy lại thái độ bị đánh mất của mình.

“Ôi, dĩ nhiên rồi Mike, chúng ta sẽ bắt kịp họ thôi… nhanh chân lên nào.”

Cậu cảm thấy ruột gan như muốn chùng lại. Trong lúc họ bước lên xe, cậu vội vàng phủ phép xã giao khéo léo lên kế hoạch cứng nhắc mà cậu đã tạo dựng. Nó dựa trên “những lời khen đãi bôi” gom góp được từ trường múa, khi họ nói rằng “cậu đẹp trai đến khó cưỡng và có dáng vẻ của một người Anh.”

“Myra”, cậu nói, hạ giọng và cẩn thận lựa lời, “tớ xin lỗi cậu cả ngàn lần. Cậu có thể tha thứ cho tớ được không?” Cô nghiêm nghị nhìn cậu, với một cô gái đương tuổi mười ba yêu thích những chiếc cổ áo Arrow1 thì cặp mắt xanh kiên định của cậu, bờ môi của cậu là tinh túy của sự lãng mạn. Có, Myra có thể dễ dàng tha thứ cho cậu.

“Ồ… được thôi… dĩ nhiên rồi.”

Cậu lại ngước mắt nhìn cô, rồi nhìn xuống. Cậu cảm thấy như vừa đón nhận những đòn trời giáng.

“Tớ thật tệ”, cậu nói buồn bã. “Tớ khác người. Tớ không biết tại sao mình lại gây ra những lỗi lầm ngớ ngẩn như vậy. Có lẽ vì tớ không quan tâm.” Rồi, lại liều lĩnh nói: “Tớ đã hút quá nhiều thuốc. Tớ có trái tim nhuốm màu thuốc lá.”

Myra hình dung đến cảnh tượng của một đêm hoang tàn hút thuốc không ngừng, với hình ảnh Amory tái mét và quay cuồng vì tác hại của hai lá phổi chứa đầy nicôtin. Cô khẽ thở gấp.

“Ôi, Amory, đừng hút thuốc. Cậu sẽ cản trở sự phát triển của mình đấy!”

“Tớ chẳng quan tâm”, cậu khăng khăng nói, vẻ buồn rầu. “Tớ phải hút. Tớ quen rồi. Tớ đã làm rất nhiều việc mà nếu gia đình tớ biết thì” – cậu ngập ngừng, cho cô đủ thời gian để hình dung ra những cảnh tượng kinh hãi – “Tuần trước, tớ đã đi xem một buổi burlesque đấy.”

Myra cảm thấy bàng hoàng. Cậu lại ngước đôi mắt xanh lên để nhìn cô. “Cậu là cô gái duy nhất mà tớ cực thích trong cả thị trấn này”, cậu thốt lên trong cơn dâng trào của cảm xúc. “Cậu rất dễ gần.”

Myra không chắc rằng cô dễ gần, nhưng những từ ấy nghe thật bảnh, dù có phần không đúng.

Hoàng hôn dày đặc buông rũ ngoài trời, và trong lúc chiếc limousine đột ngột rẽ, cô va phải cậu; tay họ chạm nhau.

“Cậu không nên hút thuốc, Amory ạ”, cô thì thầm. “Cậu không biết điều đó sao?”

Cậu lắc đầu.

“Có ai quan tâm đâu.”

Myra ngập ngừng.

Tớ quan tâm.”

Một điều gì đó cựa quậy trong người Amory.

“Ồ, phải, cậu quan tâm! Cậu thích Froggy Parker mà. Ai chẳng biết điều đó.”

“Tớ không thích”, cô nói thật chậm.

Sự im lặng bao trùm, trong lúc Amory cảm thấy hưng phấn. Ở Myra có điều gì đấy rất thú vị, khi ngồi ấm áp trong này, xa khỏi tiết trời giá lạnh nhá nhem bên ngoài. Myra, mặc quần áo kín mít, với những lọn tóc vàng rũ xuống từ chiếc mũ trượt băng.

“Vì tớ cũng thích một người…” Cậu ngập ngừng, vì nghe thấy tiếng cười của trẻ con vọng lại từ đằng xa, và, ghé mắt nhìn qua ô cửa kính mờ dọc theo con đường rạng rỡ ánh đèn, cậu thấy những viền nét mờ tối của đoàn người trượt tuyết. Cậu phải hành động thật nhanh. Cậu vung tay trong nỗ lực mạnh bạo, bồn chồn, và nắm chặt tay Myra – chính xác là ngón cái của cô.

“Bảo ông ấy chạy thẳng đến Minnehaha đi”, cậu thì thầm. “Tớ muốn nói chuyện với cậu… tớ phải nói chuyện với cậu.”

Myra nhìn thấy đoàn người phía trước, chợt hình dung ra dáng vẻ của mẹ, và rồi – than ôi sự thỏa hiệp – nhìn sang cặp mắt bên cạnh. “Rẽ sang con phố nhỏ này đi, Richard, và chạy thẳng đến Câu lạc bộ Minnehaha!” cô thét lên qua ống nói. Amory ngả người trên ghế trong tiếng thở dài nhẹ nhõm.

“Mình có thể hôn cô ấy”, cậu nghĩ. “Mình cược rằng có thể. Mình cược rằng có thể!”

Phía trên, bầu trời nửa trong veo, nửa mờ ảo, và khí trời buổi tối giá lạnh, rung rinh trong sự căng thẳng đậm đà. Từ bậc thềm của Câu lạc bộ Đồng quê, những cung đường trải dài, những nếp gấp của bóng tối trên chiếc chăn màu trắng; những đụn tuyết bự chảng dọc hai bên như dấu vết bị bỏ lại của những con chuột chũi khổng lồ. Họ nán lại ở bậc thềm trong giây lát, và ngắm mặt trăng tròn trịa tinh khôi.

“Những lần trăng mờ như vậy” – Amory khoát tay mơ hồ – “khiến người ta trở nên kỳ bí. Trông cậu như một cô phù thủy nhỏ với chiếc mũ đã được gỡ xuống và mái tóc rối nùi” – hai tay cô ôm chặt lấy tóc – “Ồ, cứ kệ nó, trông đẹp lắm mà.”

Họ bước lên bậc thềm và Myra dẫn cậu vào căn phòng nhỏ như ước nguyện của cậu, nơi có một ngọn lửa ấm áp đang bừng cháy đằng trước chiếc tràng kỷ lớn êm ái. Vài năm sau đây sẽ là một sân khấu lớn dành cho Amory, một cái nôi của nhiều cơn khủng hoảng cảm xúc. Giờ thì họ sẽ trò chuyện một chút về những đoàn cưỡi xe trượt tuyết.

“Lúc nào cũng có một đám những thằng nhóc ngượng ngùng”, cậu nhận xét, “ngồi ở đuôi xe, cứ lắc lư và thì thầm và đẩy nhau ngã xuống. Rồi lúc nào cũng có một cô gái mắt sòng sọc điên khùng” – cậu bắt chước trông thật kinh hãi – “cô ta cứ hùng hổ nói với người đánh xe.”

“Cậu thật là một anh chàng hài hước”, Myra tỏ ra bối rối.

“Ý cậu là gì?” ngay lập tức Amory dành sự chú ý cho cô, cuối cùng cũng đã lấy lại sự tự chủ.

“Ồ – lúc nào cũng nói những điều điên khùng. Sao ngày mai cậu không đi trượt tuyết với tớ và Marylyn nhỉ?

“Tớ không thích con gái vào lúc ban ngày”, cậu đáp cụt lủn, và rồi, nghĩ như vậy có hơi cộc cằn, nên nói tiếp: “Nhưng tớ thích cậu.” Cậu đằng hắng. “Tớ thích cậu nhất, nhì và ba.”

Cặp mắt của Myra trở nên mơ màng. Đây sẽ là một câu chuyện mới thú vị làm sao để kể cho Marylyn nghe! Ngồi đây trên chiếc tràng kỷ với một đứa con trai đẹp mã bên ngọn lửa nhỏ, cái cảm giác rằng họ đang ở một mình giữa tòa nhà bự chảng…

Myra đầu hàng. Không khí quá phù hợp rồi.

“Tớ thích cậu ở hai mươi lăm vị trí đầu”, cô thú nhận, giọng run rẩy, “và Froggy Parker ở vị trí thứ hai mươi sáu.”

Froggy đã tụt một lúc hai mươi lăm hạng trong một giờ. Nhưng cậu thậm chí đã không để ý đến điều đó.

Amory, bị bất ngờ, đã nhanh nhảu nhoài người và hôn lên má Myra. Cậu chưa từng hôn bất kỳ cô gái nào, và cậu tự nếm môi của mình một cách tò mò, như thể đang nhấm nháp một loại quả mới. Rồi môi của họ khẽ vuốt qua nhau như những đóa hoa non hoang dại đang phất phơ trong gió.

“Cậu tệ quá đi”, Myra khẽ thảng thốt. Cô luồn tay vào tay cậu, đầu tựa trên vai. Sự ghê tởm bất chợt choán lấy Amory, kinh tởm, chán ghét vì trò lố này. Cậu thèm thuồng được chạy đi, không bao giờ gặp lại Myra nữa, không bao giờ hôn ai nữa; cậu nhận thức rất rõ khuôn mặt của mình và của cô, hai bàn tay đang bám chặt lấy nhau không rời, và cậu muốn chui ra khỏi cơ thể rồi trốn ở một nơi không ai nhìn thấy, tít trên một góc tâm trí của mình.


THÔNG SỐ SÁCH “BÊN NÀY ĐỊA ĐÀNG”

Dịch giả Sơn Lam
Nhà xuất bản NXB Phụ nữ Việt Nam
Định dạng  1/ Bản giới hạn có đánh số16×24cm, bìa cứng, áo bọc,

S001 đến S500, mỗi bản được phát hành đều là duy nhất

2/ Bản phổ thông bìa mềm tay gập

16×24cm, bìa mềm, tay gập

Số trang 390
Năm xuất bản 2023
Giá bìa Bản giới hạn: 292.000Bản phổ thông: 192.000

  1. – Mua tại website này: Bấm vào Link
  2. – Mua tại Shopee: Bấm vào Link
  3. – Mua tại Tiki: Bấm vào Link
  4. – Mua tại oreka: Bấm vào Link
  5. – Mua tại fanpage của Rainbow Books: Bấm vào Link
  6. – Mua tại các cửa hàng sách offline của Fahasa
  7. – Mua tại kênh của các đối tác phát hành sách cho Rainbow Books

Cảm ơn bạn đã mua sách của Rainbow Books

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *